Sự hình thành và phát triển của làng gốm Bát Tràng

Sự hình thành và phát triển của làng gốm Bát Tràng

06:15 - 17/04/2018

Làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo biên niên sử, thế kỷ 14-15 được xem là giai đoạn hình thành của làng gốm Bát Tràng.

Lợi Ích Không Ngờ Của Du Lịch Đối Với Trẻ Em
Kỹ năng giữ an toàn khi tiếp xúc và chăm sóc vật nuôi
Tranh Đông Hồ

Làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo biên niên sử, thế kỷ 14-15 được xem là giai đoạn hình thành của làng gốm Bát Tràng.

Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát là bát ăn của nhà sư còn chữ Tràng nghĩa là "cái sân lớn", tức là mảnh đất dành riêng cho chuyên môn. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: năm Nhân Thìn (1352), vào mùa thu tháng 7, nước lớn ngập vỡ đê xã Bát. Lúa chìm ngập, Khoái Châu, Hồng Châu, Thuận An bị thiệt hại nặng nề nhất. Xã Bát là xã Bát Tràng, xã Khối là Thổ Khối. Hai xã nằm ven đê sông Hồng.

Năm 1376, trong một cuộc Nam chinh, đoàn chiến thuyền của đức vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Hồng có đi đi qua "bến sông xã Bát". Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì viết: Làng Bát Tràng làm đồ bát chén, thuộc huyện Gia Lâm. Cùng với làng Huê Câu (Văn Giang), hai làng cung ứng đồ cống cho Trung Quốc.

Theo huyền thoại lưu truyền của làng, nguồn gốc của nghề gốm như sau:  

Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh tên là Hứa Vinh Kiều, Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú được triều đình cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, trên đường về có đi qua Thiều Châu (Quảng Đông, Trung Quốc) thì gặp bão và phải nghỉ lại. Cũng tại đây có lò gốm nổi tiếng. Ba ông đến thăm và tiếp thu được một số kỹ thuật đem về. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho làng Bát Tràng nước men rạn trắng. Đào Trí Tiến thì truyền cho Thổ Hà (Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ. Còn Lưu Phương Tú lại truyền cho Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ màu vàng thẫm.

Theo gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng có ghi, tổ tiên xưa của họ từ làng Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát). Vào cuối thế kỷ 14 – đầu thế kỷ 15, tại Bồ Xuyên, Bạch Bát có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long. Nhiều thương nhân, thợ thủ công khắp nơi tìm về lập nghiệp. Một số thợ Bồ Bát đã di cư ra đây cùng với họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Các đợt di cư tiếp theo đã khiến cho Bát Tràng trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.

Cho đến nay, chưa tìm thấy tư liệu lịch sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật kể trên cũng như sự hình thành của làng. Chỉ có điều chắc chắn là làng Bát Tràng hình thành từ rất sớm và quá trình phát triển có nhiều mối giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng từ gốm sứ Trung Quốc.

Cùng tìm hiểu các giai đoạn phát triển của làng gốm Bát Tràng:

Thế kỉ 15–16

Nhà Mạc trị vì giai đoạn này có chủ trương cởi mở, không chủ trương "ức thương" như trước. Nhờ đó kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm thời này có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất. Trong đó có cả một số quan chức cao cấp và quý tộc nhà Mạc như công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn…

Thế kỉ 16–17

Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) cấm vận tư nhân buôn bán với nước ngoài khiến cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của nước này bị hạn chế. Chính vì thế gốm Bát Tràng đã được mở rộng thị trường ở khu vực Đông Nam Á. Khi nhà Minh quyết định bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng (1567) nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản, các đồ gốm Bát Tràng đã được nhập cảng vào xứ sở Phù Tang.

Đây là giai đoạn phát triển mạnh của ngành gốm xuất khẩu Việt Nam. Trong đó ở miền Bắc có 2 trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu. Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm ngay bên bờ sông Hồng, ở trên đường thủy nối liền Thăng Long và Phố Hiến. Nhờ các thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bán sang nhiều nước khác.

Cuối thế kỉ 17& đầu thế kỉ 18

Thời gian này Đài Loan được giải phóng và Trung Quốc đã bãi bỏ chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài. Từ đó, gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường các nơi và đồ gốm Việt Nam không đủ sức để cạnh tranh. Nhật Bảncũng đã đẩy mạnh được sự phát triển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa, đường, gốm sứ... mà trước đây phải mua của nước ngoài.

Thế kỉ 18–19

Các nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng công nghiệp. Tình hình Trịnh, Nguyễn phân tranh làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm. Gốm Bát Tràng cũng bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có thị trường tiêu thụ trong nước.

Thế kỉ 19 đến nay

Sau năm 1986, làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần nhưng vẫn phổ biến là đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Xã Bát Tràng trở thành một trung tâm gốm lớn.

Sản phẩm của gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò còn sản xuất nhiều sản phẩm tiêu dùng như ấm chén, bát đĩa, lọ hoa... Sản phẩm không chỉ có mặt trên thị trường cả nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu.

Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò".

Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành (五行) là kim (金), mộc (木), thuỷ (水), hoả (火) và thổ (土). Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sự hanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những quy trình kĩ thuật chặt chẽ, chuẩn xác.

1. Quá trình tạo cốt gốm

Chọn đất

Xử lý, pha chế đất

Tạo dáng

Phơi sấy và sửa hàng mộc

2. Quá trình trang trí hoa văn và phủ men

- Kỹ thuật vẽ

- Chế tạo men

- Tráng men

- Sửa hàng men

3. Quá trình nung

- Lò nung

        Lò ếch 

        Lò đàn 

        Lò bầu, hay lò rồngLò hộp hay lò đứng

        Lò con thoi (hay lò gas), lò tuynen (lò hầm, lò liên tục)

- Bao nung

- Nhiên liệu

- Chồng lò

- Đốt lò